Cổng thông tin điện tử huyện An Biên

Thông tin tuyên truyền

Xem với cỡ chữAA

Luật Tố cáo năm 2018 khắc phục hạn chế của Luật Tố cáo năm 2011

(15:39 | 05/12/2018)

 

Trong những năm qua, Luật Tố cáo năm 2011 đã tạo hành lang pháp lý để công dân thực hiện quyền tố cáo; giúp các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kịp thời phát hiện và xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ nói riêng. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện cho thấy Luật Tố cáo năm 2011 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập: Chưa quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết tố cáo; quy định thiếu chặt chẽ trong việc tiếp nhận, xử lý ban đầu thông tin tố cáo; việc rút đơn tố cáo; tạm dừng, đình chỉ giải quyết tố cáo, về tố cáo tiếp và giải quyết tố cáo tiếp; tổ chức thi hành kết luận nội dung tố cáo, dẫn đến có nhiều kết luận, quyết định xử lý tố cáo đã ban hành, có hiệu lực pháp luật nhưng không được cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời, nghiêm minh, nhất là việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức; xử lý sai phạm về kinh tế tài chính... gây ra những bức xúc cho người dân và xã hội. Các quy định về bảo vệ người tố cáo theo Luật Tố cáo năm 2011 cũng khó thực hiện, chưa tạo ra cơ chế pháp lý đầy đủ để bảo vệ người tố cáo một cách hiệu quả và thực chất. Những hạn chế, bất cập nêu trên dẫn đến tình trạng làm giảm hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết tố cáo.

 

Luật Tố cáo năm 2018 ra đời đã khắc phục những hạn chế trên, đồng thời thể chế hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong việc đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng và nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo. Luật Tố cáo năm 2018 bao gồm 9 chương với 67 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019.

 

Phạm vi điều chỉnh Luật Tố cáo năm 2018

 

Điều 1 Luật Tố cáo năm 2018 quy định “Luật này quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi vi phạm pháp luật khác về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; bảo vệ người tố cáo; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc quản lý công tác giải quyết tố cáo.”

 

Quy định trên tiếp tục kế thừa quy định của Luật Tố cáo năm 2011 về phạm vi điều chỉnh, trong đó quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với 02 nhóm hành vi vi phạm pháp luật: (1) tố cáo hành vi vi phạm trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; (2) tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.

 

Tuy nhiên so với Luật Tố cáo năm 2011, phạm vi điều chỉnh của Luật Tố cáo năm 2018 chỉ quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, bỏ cụm từ “cán bộ, công chức, viên chức” trong Luật Tố cáo năm 2011. Quy định như vậy mang tính bao quát, không chỉ tố cáo hành vi của cán bộ, công chức, viên chức mà Luật Tố cáo năm 2018 còn mở rộng đối tượng khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Bên cạnh đó, Luật Tố cáo năm 2018 còn quy định về vấn đề bảo vệ người tố cáo; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc quản lý công tác giải quyết tố cáo.

 

Đồng thời, để phân biệt việc giải quyết tố cáo trong Luật này với việc giải quyết đối với tố giác và tin báo về tội phạm, Khoản 2 Điều 3 củạ Luật Tố cáo năm 2018 quy định: “Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự”.

 

Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo

 

Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, về cơ bản Luật Tố cáo năm 2018 tiếp tục kế thừa, phát triển các quy định của Luật Tố cáo năm 2011 về quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo.

 

Đối với người tố cáo, Luật quy định các quyền cho người tố cáo (tại Khoản 1 Điều 9) như: Thực hiện tố cáo; được bảo đảm bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác; được thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý tố cáo, chuyển tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo, kết luận nội dung tố cáo; tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo chưa được giải quyết; rút tố cáo; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo; được khen thưởng, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.  

 

Luật Tố cáo năm 2011 không quy định việc người tố cáo có quyền rút tố cáo. Nhưng trên thực tế có rất nhiều trường hợp người tố cáo nhận thức được việc tố cáo của mình không đúng nên rút tố cáo nhưng cơ quan có thẩm quyền vẫn phải thụ lý giải quyết tố cáo, điều này làm mất rất nhiều thời gian, công sức của cơ quan chức năng có thẩm quyền. Do đó, Luật Tố cáo năm 2018 đã bổ sung thêm quyền của người tố cáo là được rút tố cáo để khắc phục được hạn chế của Luật cũ.

 

Bên cạnh các quyền, Luật Tố cáo năm 2018 quy định người tố cáo có các nghĩa vụ (tại Khoản 2 Điều 9) như: Cung cấp thông tin cá nhân quy định tại Điều 23 của Luật; trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình; hợp tác với người giải quyết tố cáo khi có yêu cầu; bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra. 

 

Các quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo được quy định cụ thể tại Điều 10 và Điều 11 của Luật trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định tại Điều 10, Điều 11 của Luật Tố cáo năm 2011./.